Hạ natri máu là tình trạng giảm nồng độ natri huyết thanh < 136 mEq/L (< 136 mmol/L) gây ra bởi thừa nước liên quan đến chất hòa tan. Các nguyên nhân thường gặp bao gồm sử dụng lợi tiểu, tiêu chảy, suy tim, bệnh gan, bệnh thận và hội chứng bài tiết ADH không thích hợp (SIADH). Các biểu hiện lâm sàng là triệu chứng thần kinh trung ương (do chuyển dịch thẩm thấu của nước tới tế bào não gây ra phù), đặc biệt trong giảm natri máu cấp tính, và bao gồm nhức đầu, nhầm lẫn và sững sờ; co giật và hôn mê có thể xảy ra.
Tốc độ truyền dịch (mL/giờ) = 1000 * Tốc độ thay đổi Natri máu (mEq/L/giờ)/∆ [Na+].
Thay đổi nồng độ Natri máu khi truyền cho bệnh nhân 1 lít dịch có thể được ước tính bằng phương trình Adrogue-Madias:
∆ [Na+] = [Na+(dịch truyền) + K+ (dịch truyền) - Na+ (máu)]/[Tổng lượng nước cơ thể ước tính +1]
Nồng độ Natri và Kali dịch truyền theo loại dịch truyền:
Tổng lượng nước cơ thể ước tính = K * Cân nặng (kg).
Hệ số K | ||
---|---|---|
Tuổi | Nam | Nữ |
Trẻ em < 16 tuổi | 0.6 | 0.6 |
Người lớn 16 - 60 | 0.6 | 0.5 |
Người già > 60 | 0.5 | 0.45 |
Tốc độ dịch truyền cần bù = Tốc độ để thay đổi Na+ máu (mL/giờ) + Tốc độ đang mất tiếp diễn (mL/giờ) - Tốc độ nước đang bù khác (mL/giờ).
Theo dõi:
Ví dụ: Natri máu 120 (mEq/L); Cân nặng: 60 (kg); Bệnh nhân nam >60 tuổi; Loại dịch truyền NaCl 3%; Tốc độ thay đổi Natri máu 0,5 (mEq/L/giờ).
Với mục tiêu cần tăng Na+ 0,5 mEq/L/giờ à (1000 x (0,5/12,6774) ≈ 39,4 (mL/giờ).